Wednesday, April 16, 2014

Nhân Lễ Giổ Tổ Hùng Vương, Di Tích Thành Cổ Loa

Thành Cổ Loa.
Thành Cổ Loa là di tích lịch sử có từ hơn 2050 năm, là di tích thứ nhì sau vua Hùng.
Ước nguyện là làm thế nào để đến được các di tích lịch sử từ đời vua Hùng cho đến các triều đại về sau.
Xin giới thiệu di tích thành Cổ Loa ở Đông Anh - Hà Nội.



Hình hướng dẫn du khách vào thành Cổ Loa ở Đông Anh.





Sơ đồ thành Cổ Loa, nhìn thì biết thế nhưng thật ra để nhìn toàn cảnh thành Cổ Loa phải dùng máy bay trực thăng mới thấy được tổng thể của thành vì quá rộng lớn.
Cổ Loa là kinh đô của nhà nước Âu Lạc, dưới thời An Dương Vương vào khoảng thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên và của nhà nước dưới thời Ngô Quyền thế kỷ 10 sau Công nguyên.

Thành Cổ Loa được xây bằng đất do thời ấy ở Âu Lạc chưa có gạch nung. Thành có 3 vòng. Chu vi ngoài 8km, vòng giữa 6,5 km, vòng trong 1,6 km. Diện tích trung tâm lên tới 2 km². Thành được xây theo phương pháp đào đất đến đâu, khoét hào đến đó, thành đắp đến đâu, lũy xây đến đó. Mặt ngoài lũy, dốc thẳng đứng, mặt trong xoải để đánh vào thì khó, trong đánh ra thì dễ. Lũy cao trung bình từ 4-5m, có chỗ 8–12 m. Chân lũy rộng 20–30 m, mặt lũy rộng 6–12 m. Khối lượng đất đào đắp ước tính 2,2 triệu mét khối.



 Điểm đến đầu tiên khi vào thành Cổ Loa, dọc đường đông đúc nhà của phố thị là cửa Trấn Nam.


Miếu thờ thần trấn cửa Nam. Thành Cổ Loa có 4 miếu trấn 4 hướng Đông - Tây - Nam - Bắc.
 



Qua cửa Trấn Nam rẽ tay phải đến khu di tích đền thờ tướng Cao Lỗ.




Hình tượng tướng Cao Lỗ ở giủa hồ, tay dương nỏ Liên Châu.

Cao Lỗ (? - 179 trước Công nguyên) (còn gọi là Cao Nỗ, Cao Thông, Đô Lỗ, Thạch Thần, hay Đại Than Đô Lỗ Thạch Thần) là một tướng tài của Thục Phán An Dương Vương, quê quán tại xã Cao Đức, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh ngày nay.
Tương truyền, ông là người chế ra nỏ liên châu (bắn được nhiều mũi tên một phát) mà còn được gọi là Nỏ thần. Ông là người khuyên Thục An Dương Vương dời đô xuống đồng bằng, tìm đất đóng đô và là người được An Dương Vương giao nhiệm vụ thiết kế và chỉ huy công trình xây thành Cổ Loa.





Đền thờ Cao Lỗ.
Mũi tên bằng đồng, cổ vật được tìm thấy tại khu di tích thành Cổ Loa.
Cha đẻ nỏ Thần
Cao Lỗ là người sáng chế ra nỏ Liên Châu (nỏ thần), bắn một lần được nhiều phát mà các mũi tên đều bịt đồng sắc nhọn. Sử sách cũ đã thần thánh hóa gọi là: "Linh Quang Thần Cơ". Sách Lĩnh Nam chích quái chép rằng: Cứ đem nỏ ra chĩa vào quân giặc là chúng không dám đến gần.
Cao Lỗ huấn luyện cho hàng vạn binh sỹ ngày đêm tập bắn nỏ. Vua An Dương Vương thường xem tập bắn trên "Ngự xa đài", dấu vết này nay vẫn còn (góc đông bắc ngoài thành nội).
Là người phát minh ra nỏ thần, lại có tài bắn nỏ nên dân gian thường gọi ông là Ông Nỏ.
Khi Triệu Đà cho quân xâm lược Âu Lạc chúng đã bị các tay nỏ liên châu bắn tên ra như mưa, thây chết đầy và phải lui binh. Đương thời, nỏ liên châu trở thành thứ vũ khí thần dũng vô địch của nước Âu Lạc.


Án thờ tiền sảnh, thờ Bách gia trăm họ.


Án thờ Cao Lỗ ở Hậu cung.


Qua đời

Triệu Đà bèn lập xảo kế thông gia cho con trai là Trọng Thủy lấy con gái An Dương Vương là Mỵ Châu. Cao Lỗ phản đối, khuyên vua không nên nhận, nhưng An Dương Vương không nghe còn nghe lời dèm pha của Lạc hầu. Cao Lỗ dần dần bị vua xa lánh, ông bỏ đi tìm nơi ở ẩn.
Sau khi Trọng Thủy biết được bí mật phòng thủ của An Dương Vương và về mách cho vua cha, Triệu Đà mang quân sang đánh. An Dương Vương thua chạy. Quân Triệu đuổi theo. Cao Lỗ biết tin, ra đón đường chặn đánh quân Triệu cho vua chạy thoát nhưng do Mỵ Châu tin lời của Trọng Thủy, rải lông ngỗng theo sau để Trọng Thủy lần theo nên cả hai đã tử trận.



Toàn cảnh đền thờ Cao Lỗ.



 Đền thờ Vua An Dương Vương cách đền thờ Cao Lỗ chừng 150m
 


Hồ nước trước đền thờ, một phong cảnh hữu tình nhất của thành Cổ Loa.



Cổng chính của đền thờ vua nhìn ra hồ nước.




 
Qua cổng chính là cổng Tam Quan.



Hình ảnh nhìn từ chánh điện ra phía trước, thiêt kế gọn gàng, hai bên là hai nhà tả, hữu. Buổi trưa hết giờ hành chánh cửa điện đóng nên không vào bên trong điện được


 


Rời điện thờ, ra ngoài nhìn cảnh hồ thật nên thơ, chụp một bức ảnh góc xa nhìn về ngôi đền.



Dù đã trưa nhưng vẫn tiếp tục quay lại đền Cao Lỗ, phái sau đền Cao Lỗ là cung đình, nơi hội họp của An Dương Vương.

Cổng chánh.

 
Cung điện là một tòa nhà 9 căn, cửa đóng then gài vì quá trưa không mở cửa.


 Bên cạnh là miếu thờ Mỵ Nương.


Án thờ Hội đồng.

Án thờ Mỵ Nương ở Hậu cung, nơi đây âm u thấy rợn người khi lẻn vào chụp ảnh.

Một góc nhìn về chánh điện.


Một cảnh của hồ nước trước trước đền thờ rất thơ mộng.


 Góc xa nhìn về ngôi đền thờ vua.

                             Hình ảnh một đoạn thành Cổ Loa.

Thành Cổ Loa được các nhà khảo cổ học đánh giá là "tòa thành cổ nhất, quy mô lớn vào bậc nhất, cấu trúc cũng thuộc loại độc đáo nhất trong lịch sử xây dựng thành lũy của người Việt cổ"
Khi xây thành, người Việt cổ đã biết lợi dụng tối đa và khéo léo các địa hình tự nhiên. Họ tận dụng chiều cao của các đồi, gò, đắp thêm đất cho cao hơn để xây nên hai bức tường thành phía ngoài, vì thế hai bức tường thành này có đường nét uốn lượn theo địa hình chứ không băng theo đường thẳng như bức tường thành trung tâm.





Nhiều đoạn thành bị cắt xẻ để làm đường giao thông đi lại từ khu vực nầy sang khu vực khác do mật độ dân số tăng lên, lập thành hệ thống liên thông giửa là này qua làng khác đã phá vỡ cảnh quang của hệ thống thành Cổ Loa.

Cửa Trấn Bắc

Cửa Trấn Bắc trên vị trí vòng thành thứ 3, cách trung tâm Cổ Loa 5km. được người dân nơi đây tôn tạo giữ gìn

Vòng thành bị đứt nhiều đoạn. Cứ thấy giửa cánh đồng có đoạn nào cao, cây cối mọc sum sê thì đó là đoạn thành Cổ Loa.


Cửa Trấn Tây. Riêng cửa Trấn Đông không còn vì người dân nơi đó đã san bằng để xây dựng nhà cửa. Thật đáng tiếc.



Người xưa lại xây thành bên cạnh con sông Hoàng để dùng sông này vừa làm hào bảo vệ thành vừa là nguồn cung cấp nước cho toàn bộ hệ thống hào vừa là đường thủy quan trọng.



Hình ảnh sông Hoàng chảy về thành Cổ Loa. Hiện nay tốc độ xây dựng khu dân cư, làng xóm trong phạm vi khu nội thành đã phá vỡ cảnh quang của khu di tích, nhà cửa xây cao tầng sát với các khu đền thờ quan trọng nhất của thành Cổ Loa.

Nguyễn Hữu Chánh - Sưu tầm

Sunday, March 9, 2014

THƠ VỀ ĐÀLẠT CUẢ NGUYỄN DƯƠNG QUANG


          Trích những bài thơ về ĐÀLẠT của Nguyễn Dương Quang
          từ tập thơ "Đêm ôm đàn uống rượu một mình" !

                          ta đã sống những ngày như đùa
                          với trần gian mù mờ vinh nhục
                             vô ích như lời thơ tiếng hát
                          chuyện đời ai luận lẽ thắng thua
                                           
 
Đàlạt,một mình bên hồ nhớ một người đã xa
 
Thu đi,chậm một góc trời
Hương thời gian đọng vàng rơi bên hồ
Uyên nguyên xưa đã xa mờ?
Hồng hoang phố núi mấy bờ cỏ xa
Ồ! sao trời đất bao la
Ngẩn ngơ lặng một mình ta sương mù?
Gửi người một thoáng thiên thu...
ndq-1985
 
EM,MUÀ XUÂN ĐÀLẠT
Đàlạt mùa xuân những nụ hồng
 nắng vàng tơ lụa, cỏ xanh nhung
 thực ,ảo như người mình yêu dấu
nhà em chìm bên kia đồi thong
HỒ XUÂN HƯƠNG ĐÀLẠT
Phố cao theo núi dải sương mơ
sắc hương trời đất cỏi hẹn hò
hoa cũng đẹp,suối,hồ cũng đẹp
bởi vì em đẹp như bài thơ
 
Đàlạt chiều xuân buồn nhè nhẹ
như chàng thi sĩ đợi hoàng hôn
ta trải hồn chờ bên dốc nhỏ
nghe thoáng làn hương gót chân quen.
ndq 1992

Wednesday, March 5, 2014

GẶP NGUYỄN DƯƠNG QUANG TẠI ĐÀLẠT


     Một NGUYỄN DƯƠNG QUANG con cô giáo DƯƠNG THỊ KIÊM hoàn toàn khác hẳn.
     Ngày xưa là một cậu bé nhỏ xíu ,con cưng ,lúc nào cũng là BABY của MẸ KIM,không ngờ lớn lên lại là một tâm hồn nghệ sĩ ,đàn giỏi,hát hay ,làm thơ tuyệt vời ...thật đáng khâm phục!
    Gặp lại Quang tại nhà và một đêm VĂN NGHỆ BỎ TÚI ,không biết còn có lần thứ 2 nữa không?
                

                       Đạt đang hát bài gì ?
                          
vợ chồng NDQUANG-SK-TT trước khách sạn BÔNG HỒNG
Quang bị trật gân chân mà không chịu đi bác sĩ ,nên mang đôi dép hồng tiếu lâm !
 
DRAN NGÀY VỀ
Mây ngu ngơ theo gió về lối cũ
lòng ngỡ như trôi lạc cõi xa xôi
cây đa xưa già chưa mà đã chết ?
và người bên giếng hẹn đã đi rồi
 
Xa lắc một thời chim quanh miệng tổ
lối mộng đầu còn lãng đãng chiêm bao
hồn hiu hắt bên sông buồn vắng nước
gió đã bạt đời lỗi đọan ca dao
 
Tôi yêu Dran hơn yêu tôi,Dran làm sao biết được!
tôi là giọt sương Dran sớm,giọt sương Dran chiều
tôi yêu ai hơn yêu tôi,ai làm sao biết được!
ngày ai chưa biết làm duyên,tôi vừa biết yêu
 
Cô hàng bánh canh vui chiều cố xứ
khóm quỳ xưa đáy mắt em long lanh
môi em hé ngày xưa dòng suối nhỏ
ôi,một chút gì thuở tóc tôi xanh
 
Đêm ngồi đợi sương mù buông hư ảo
chuyện xưa xui thác mộng đổ ngàn hàng
mai xa, hồn nhánh thông bên đèo vắng
một đời vi vu khúc nhạc tình Dran.
1979-Nguyễn Dương Quang
(trích trong tập thơ  ĐÊM ÔM ĐÀN UỐNG RƯỢU MỘT MÌNH)